Thứ Sáu, Tháng Sáu 21, 2024
Google search engine
HomeNhà thờHỏi đápKinh Thánh có phản khoa học và tự mâu thuẫn không?

Kinh Thánh có phản khoa học và tự mâu thuẫn không?

PHẢI CHĂNG KINH THÁNH PHẢN KHOA HỌC & TỰ MÂU THUẪN?
1. Các thể văn trong Kinh Thánh
Khi đọc Kinh Thánh, người ta dễ rơi vào một sai lầm sơ đẳng, đó là nghĩ rằng mọi điều nói ở trong sách đều là “đúng“, là “thật“ theo nghĩa khoa học (lịch sử, vật lý, địa chất…). Trong thực tế, Kinh Thánh là một tuyển tập các bản văn, nên mọi vấn đề văn chương ta gặp trong các tác phẩm đời thường, đều có thể gặp lại ở đây. Chỉ xin nói vắn tắt là: cho dù mọi điều được nói đến trong Kinh Thánh đều là “thật“, là “đúng“, sự thật, sự chính xác phải được hiểu theo thể văn. Nếu thể văn là tường thuật (chẳng hạn Tin Mừng Luca), sự thật của các sự kiện nói đến trong đó sẽ có tính chắc chắn về lịch sử hơn là các bản văn triết học, nêu lên các suy tư về cuộc đời con người chẳng hạn (chẳng hạn sách Khôn ngoan). Nếu là thể văn tiểu thuyết (chẳng hạn sách Giôna), sự thật của các chi tiết được nói đến trong đó không có tính sử như các chi tiết của một sách Sử biên niên (xem 1-2 Sử biên niên chẳng hạn). Đã thế, nói chung Kinh Thánh là một bộ sách chủ yếu mang tính tôn giáo, để nói về tôn giáo, tức là nói về quan hệ của con người với Thiên Chúa. Và chúng ta đều biết: muốn đọc một tác phẩm cho hữu ích, cần phải biết ý hướng của tác giả, cũng như hoàn cảnh sáng tác…
Còn các bản văn Sáng thế có phải là những bài nghiên cứu lịch sử hay địa chất học không? Chúng ta tiếp tục tìm hiểu.
2.- Tính khoa học trong Kinh Thánh, và đặc biệt hai chương 1-2 của sách Sáng thế
Hai bài tường thuật về sáng tạo này là những bài tuyên xưng đức tin, chứ không phải là những nghiên cứu khoa học địa chất, càng không phải là những bài phóng sự về tạo thiên lập địa.
Nói về bài “tường thuật“ sáng tạo 1 (St 1,1–2,4a), chúng ta thấy đây là một bài thơ bằng tiếng Híp-ri, có vần có điệu nhịp nhàng, trong đó tuyên xưng rằng trước khi Thiên Chúa tạo dựng thì không có bất cứ cái gì cả (vì ta không thể hình dung được tình trạng “không có gì“, (các) tác giả mới dùng công thức “hỗn mang“, “trống không mông quạnh“, “hoang vu“ [chaos; tiếng Hípri là tôhu-bôhu], để nói rằng tạo “dựng“ thì tốt hơn là không tạo dựng, “tạo dựng“ là làm cho tình trạng “hỗn độn“ (chaos) nên “trật tự“ [cosmos, “vũ trụ“, có nghĩa gốc là “trật tự“]. Thế rồi (các) tác giả đã vận dụng vũ trụ quan Do-thái thời đó mà mô tả (chúng tôi không thể nói về vũ trụ quan này ở đây, vì sẽ quá dài). Tất cả chỉ để nói là Thiên Chúa sáng tạo nên tất cả mọi sự, và sáng tạo loài người sau cùng, vì loài người là thọ tạo ưu việt, đỉnh cao của công trình sáng tạo. Trong bài, ta thấy nói rằng bất cứ điều gì Thiên Chúa tạo ra đều “tốt đẹp“ (6 lần dùng tính từ Híp-ri tov, “good“), và con người là điều tốt đẹp nhất (tov meod, “very good“), nghĩa là 7 lần tốt đẹp ( = tốt đẹp tuyệt đối). (Các) tác giả cũng không viết một câu phủ định (negative) nào cả để nói rằng trong công trình sáng tạo, không có bất cứ điều gì tiêu cực cả: Thiên Chúa là Đấng sáng tạo và bất cứ điều gì Người làm ra cũng đều tốt đẹp cả.
Bài thơ được chia ra hai phần, phần đầu là tạo khung, phần sau là lấp đầy các khung. Vậy có thể hiểu rằng đây là một bài thơ mang tính tượng trưng, có tính tôn giáo, để tuyên xưng niềm tin vào Thiên Chúa là Đấng vô cùng tốt lành, tạo ra thế giới là phản ánh sự tốt lành của Người.
Vì bài thơ viết vào thời xa xưa, (các) tác giả vận dụng vũ trụ quan của người Do-thái, không phải để nói về khoa học, nhưng để nói về niềm tin của (các) ông. Do đó, ta mới thấy có những kiểu viết quả rất ngây ngô về vũ trụ, mặt trời, mặt trăng, tinh tú, các sinh vật… Nếu không hiểu thể văn của một thời đại mà vận dụng các kiến thức của ngày hôm nay thì dễ phạm vào lỗi sai niên kỷ (anachronism) nên có những nhận định rất ngây ngô rằng “Kinh Thánh phản khoa học”. Sách Gióp cũng vận dụng một vũ trụ quan như thế, cũng vẫn để nói về chuyện khác chứ không phải để nói về khoa địa chất học.
Một trường hợp vận dụng vũ trụ quan phổ biến nhất đó là chu kỳ Trái Đất tự quay quanh trục từ tây sang đông mà cả sách báo thời nay vẫn quen gọi “Mặt trời mọc phía đông” và “mặt trời lặn phía tây” do mọi người quan sát mặt trời hiện ra và biến mất ở đường chân trời.
3.- Các tên của Thiên Chúa cho thấy sách Sáng thế không phải do 1 người duy nhất viết
Bản văn thứ 2 về sáng tạo lại có một thể văn khác. Bản văn vẫn không có mục tiêu nói về khoa phôi thai học hay địa chất học, thiên văn học. (Các) tác giả vận dụng những kinh nghiệm của mình về công việc của người thợ gốm và thầy thuốc để nói rằng thân phận con người là bụi đất, nhưng Thiên Chúa quan tâm đặc biệt đến con người, và tạo dựng họ có nam có nữ để họ tiếp tục công trình sáng tạo và điều hành vũ trụ.
Ngoài ra, chính những khác biệt về cách tường thuật về tên Thiên Chúa (Elôhim; Yhwh) và về cách thức Thiên Chúa tiến hành sáng tạo cho hiểu là Sách Sáng thế không do một tác giả duy nhất viết ra càng làm rõ tính cách tôn giáo của các bản văn.
Riêng vài câu trong sách Khải huyền (Revelation) hay những lời Đức Giêsu nói về “tinh tú rơi rụng“, đây là thể văn “khải huyền“ để nói về quyền năng của Thiên Chúa trên vũ trụ, chứ không phải là nói về khoa học không gian. Về thể văn “khải huyền“: các tác giả thời xưa thường dùng thể văn này để đưa người tín hữu đến chỗ suy nghĩ về những điều không thể diễn tả ra minh bạch bằng ngôn từ lý luận.
4.- Những cách nói của Kinh Thánh cần hiểu đúng
Nền văn chương của dân tộc nào cũng có những cách nói chuyên biệt, ta phải tìm hiểu, thì mới nắm được đúng ý nghĩa. Kinh Thánh là những bản văn do người Do-thái viết cũng có những kiểu nói chuyên biệt của người Do-thái. Chẳng hạn: “ở trên trời“ (“lạy Cha chúng con ở trên trời“) không có nghĩa là “ở trên mây xanh“, nhưng là “cao cả, siêu việt“; “đặt tên“ có nghĩa là “xác định chủ quyền“ trên một người một vật (do đó, nhiều lần Kinh Thánh cho thấy Thiên Chúa đặt tên lại cho người này người nọ). Người Do-thái cũng có những cách dùng các con số theo nghĩa tượng trưng, chẳng hạn số 7 có nghĩa là “trọn vẹn, đầy đủ“, số 10, tuy to hơn số 7, lại có nghĩa là “giới hạn“; hoặc màu sắc tượng trưng, chẳng hạn, màu đỏ tượng trưng cho “chiến tranh“ hay “sự độc ác“, màu đen tượng trưng cho “thế giới sự dữ“, màu trắng tượng trưng cho “chiến thắng“…
Đó là chưa nói đến các cách diễn tả cú pháp, ngữ pháp, cách dùng các “thì“ (tenses)… Cần phải tìm hiểu kỹ lưỡng để hiểu cho đúng nội dung bản văn.
Lm PX Phan Long, ofm
Maria Hoa
Maria Hoa
Đam mê chia sẻ
RELATED ARTICLES

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

- Advertisment -
Cầu Nguyện Online

Phổ biến

Recent Comments